Chủ đề mớiChủ đề mới  Hiển thị danh sách thành viênThành viên  LịchLịch  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp
  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Kiến thức cơ bản
 Diá»…n đàn :Khoa học :Lý thuyết phát minh :Kiến thức cơ bản
Message Icon Chủ đề: "CÁI CHẾT CỦA NGUYÊN LÝ BẤT ĐỊNH" Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Tác giả Nội dung
tranngoclinh
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 15/Sep/2007
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 29
Trích dẫn tranngoclinh Replybullet Chủ đề: "CÁI CHẾT CỦA NGUYÊN LÝ BẤT ĐỊNH"
    Ngày gửi: 19/Mar/2008 lúc 11:28pm
 

    Đó là đề bài báo của Mark Buchanan đăng trên tạp chí khoa học uy tín nhất của Anh - Australia, số mới ra ngày 6 thángNew Scientist, tuần san 3 năm 1999, đang gây xôn xao dư luận giới khoa học trên toàn thế giới. Bài báo công bố thí nghiệm của một nhóm nhà khoa học Đức cho thấy Nguyên lý bất định của Heisenberg, một trong hai nền tảng của vật lý hiện đại có nguy cơ sụp đổ. Sau khi nhắc lại cuộc tranh luận lịch sử giữa Einstein và Bohr về nguyên lý này (Einstein chống đối quyết liệt, Bohr bảo vệ), bài báo cho biết:
    Bohr và Einstein đã phải đưa ra những thí nghiệm tưởng tượng để chứng minh lý thuyết của họ, vì công nghệ hồi đó chưa cho phép làm một thí nghiệm thật. Nhưng tình hình ngày nay đã thay đổi. Với kỹ thuật laser, Gerhard Rempe và các cộng sự của ông tại Đại học Konstanz ở Đức đã thực hiện một trong các thí nghiệm nổi tiếng mà những "người khổng lồ" của lý thuyết lượng tử đã tranh cãi - đó là thí nghiệm quen thuộc, thường được gọi là "thí nghiệm hai khe" (two-slit experiment). Phương pháp thí nghiệm mới được đề xuất vào năm 1991 bởi MarLan Scully, Berthold - Georg Englert và Herbert Walther tại Học viện quang lượng tử Max Planck ở Garching, Đức, với việc chọn hạt lượng tử là nguyên tử, vì nó dễ để lại dấu vết hơn. Nhiều năm trước đây, người ta cũng đã từng làm thí nghiệm này nhưng với điều kiện thô sơ hơn, do đó không phát hiện thấy giao thoa, điều này làm cho người ta tin rằng Nguyên lý bất định hoàn toàn đúng. Nhưng khi Rempe và các cộng sự báo cáo kết quả thí nghiệm của họ vào tháng 9 năm ngoái, các nhà vật lý đã thực sự lo lắng. Bài báo viết: "Kết quả của họ chứng tỏ rằng lập luận của Bohr dựa trên một sự nhầm lẫn". Bài báo cho biết là trong bao nhiêu năm qua các nhà vật lý đã không hề hay biết rằng có một lý thuyết quan trọng nhất, đó là thuyết rối lượng tử (quantum entanglement). Hiện tượng không thấy dấu vết giao thoa thực ra là quy luật rối lượng tử - một đặc trưng của thế giới lượng tử - chứ không phải là yếu tố quyết định.
    Về mặt lý thuyết, bài báo nhắc tới quan điểm của nhà vật lý Yu Shi tại Đại học Cambridge phê phán rằng Bohr chỉ dựa trên những quan hệ đơn giản Planck và De Broglie. Shi đã phân tích lại các thí nghiệm tưởng tượng, sử dụng các phương trình chính xác của lý thuyết lượng tử từ mô tả đầy đủ nhất khả năng của một hạt lượng tử. và ông nhận thấy rằng bất chấp mọi điều Bohr đã nói, Nguyên lý bất định chẳng liên quan gì tới sự huỷ giao thoa sóng. Shi nó: "Mọi người nghĩ rằng Bohr đúng, Einstein sai, nhưng điều này còn xa sự thật lắm… Hãy quên mọi quan niệm mập mờ về bất định đi mà hãy nghĩ tới khái niệm chính xác hơn, đó là quy luật rối lượng tử". Và Mark Buchanan kêu lên: "Hãy vẫy chào tạm biệt Nguyên lý bất định, bạn không còn cần đến nó nữa. Hãy chào tạm biệt Thuết rối loạn lượng tử". Cuối cùng Buchanan dùng ý tưởng của Bohr "trái ngược nhưng không phải là mâu thuẫn" để kết, hàm ý rằng đã đến lúc làm một tư tưởng trái ngược với Bohr mới là chân lý!
    Nếu thí nghiệm của Rempe là đúng thì đây là cuộc "cách mạng lại" khoa học vật lý nói riêng và vũ trụ quan nói chung. Rõ ràng đây là điều không thể tưởng tượng vì hơn 70 năm qua, Nguyên lý Bấ định của Heisendberg đã đi vào lịch sử như một chân lý tổng quát của tự nhiên, ngang tầm cỡ với thuyết tương đối của Einstein. Nhiều nhà khoa học đang tìm cách khắc phục yếu tố bất định bằng con đường kết hợp nó với Thuyết tương đối, mặc dù Stephen Hawking đã cảnh cáo rằng đó là hai cực đối lập không tương thích với nhau. Tất cả những phương hướng nghiên cứu này kể cả những công trình vừa mới công bố vào cuối năm 1998 đầu năm 1999, đều coi Nguyên lý bất định như là một cực của chân lý. Chỉ có trường phái Thuyết rối loạn lượng tử mới phủ định Nguyên lý bất định. Phải chăng trường phái này được thúc đẩy bởi niềm tin mạnh mẽ của chính Einstein, và vô tình họ đã chứng minh rằng Einstein mới thực sự là thiên tài? Mọi kết luận vội vã lúc này đều thiếu nghiêm túc. Hãy chờ xem, và có lẽ tốt hơn, hãy cùng nghiên cứu xem. Tuy nhiên dù sự thật có thế nào đi chăng nữa thì dường như những thách thức thú vị đang lấp ló ở cánh cửa của thế kỷ 21.



Sửa bởi tranngoclinh - 19/Mar/2008 lúc 11:31pm
Mì_trứng
IP IP Logged
tranngoclinh
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 15/Sep/2007
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 29
Trích dẫn tranngoclinh Replybullet Ngày gửi: 19/Mar/2008 lúc 11:34pm
 
Luật chơi của khoa học là cái xác định

    Trước khi cơ học lượng tử ra đời, tất cả những gì dính dáng đến khoa học đều là xác định: khoa học là tập hợp những nhận thức của loài người về thế giới tự nhiên và sự nhận thức đó phải được thể hiện dưới dạng những định luật chính xác, rõ ràng. Mức độ chính xác, rõ ràng của một lĩnh vực nhận thức nói lên chất lượng khoa học cao hay thấp của lĩnh vực nhận thức đó. Toán học được coi là có chất lượng khoa học cao nhất, vì lý lẽ của nó được coi là chính xác rõ ràng nhất. Do đó, mức độ áp dụng toán học trong mỗi lĩnh vực khoa học cụ thể cũng được nhiều người coi là thước đo chất lượng khoa học của lĩnh vực đó. Chẳng hạn, chất lượng khoa học của vật lý được coi là chỉ đứng sau toán thôi, và không biết tự bao giờ, trong tâm lý của nhiều người đã hình thành thứ tự chất lượng khoa học như sau:
toán, vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế...
    Tất nhiên, bạn có thể không tán thành cách sắp xếp thứ tự đó nếu bạn không lấy toán học làm thước đo chất lượng khoa học. Mặt khác, tuỳ theo sự phát triển của mỗi lĩnh vực trong mỗi thời kỳ, thứ tự sắp xếp trên có thể thay đổi. Chẳng hạn, có khả năng, chất lượng khoa học của kinh tế học sẽ vượt hoá học và sinh học, vì kinh tế học hiện đại ngày càng phải sử dụng nhiều công cụ toán học phức tạp. Nhưng trong mọi trường hợp, các nhà Toán học luôn được an ủi bởi sự suy tôn của người đời rằng: "Toán học là ông hoàng của các loại khoa học."
    Một số người sùng bái sự thước đo khoa học đến mức tuyên bố rằng: sinh học trước Mendel không phải là một khoa học, bởi vì toán học chỉ có mặt trong các sinh học kể từ các nghiên cứu di truyền của Mendel mà thôi.
Karl Marx cũng nhấn mạnh đến vai trò của toán học trong các khoa học. Bộ Tư bản của ông được coi là cột mốc đánh dấu thời điểm kinh tế học trở thành khoa học, bởi vì đó là lần đầu tiên, các qui luật kinhtế đượcphát biểu mô tả một cách định lượng. Tuy nhiên, phải đợi đến vài chục năm gần đây các giải Nô ben về khoa học mới được trao cho các nhà kinh tế học. Phải chăng vì đến lúc đó, kinh tế học mới sử dụng nhiều đến phân tích toán học?
    Một số người không công nhận Kinh dịch là một khoa học thực sự, vì các nguyên lý của nó không được định lượng bằng các công thức chính xác của toán học. Một số nhà khoa học đã cố gắng toán học hoá Kinh dịch, nhưng có vẻ như, công trình của họ không được đông đảo các nhà khoa học chú ý. Phải chăng vì những trình bày toán học đó không đủ thuyết phục? Một số người khác nói rằng ý đồ toán học hoá Kinh dịch là không tưởng, xuất phát từ chỗ không hiểu bản chất các tư tưởng Phương Đông.
    Gần gũi hơn, tư tưởng về cái xác định trong khoa học có thể thấy nhan nhản trong môn toán của học sinh phổ thông. Các em thường xuyên phải tìm "tập xác định" của các hàm số mà các em phải đối mặt. Toán học của các em không chấp nhận phép chia cho số 0, vì kết quả vô nghĩa, hoặc bất định. Toán học rất "sợ" cái bất định!
    Trong thiên văn học cũng vậy, người ta không thể chấp nhận những lý thuyết đưa ra tiên đoán kiểu "nước đôi". Thí dụ, đến ngày giờ nhất định nào đó, một hành tinh nhất định nào đó sẽ phải xuất hiện tại một vị trí nhất định nào đó trên bầu trời. Các lý thuyết thiên văn, phải tiên đoán được được chính xác vị trí đó, thay vì tiên đoán nó sẽ ở đây, hoặc sẽ ở kia. Trên thực tế, thiên văn học thế kỷ 19 đã đạt được nhiều lỳ tích tiên đoán như thế, làm cho mọi ngưòi vừa khâm phục, vừa tin tưởng tuyệt đối vào khoa học. Từ đó, Pierre Laplace mới đưa ra lý thuyết nói rằng nếu biết trước trật tự vũ trụ tại một thời điểm nhất định, ông sẽ có thể tiên đoán được chính xác trật tự vũ trụ tại bất cứ một thời điểm nào khác. Lý thuyết này được gọi là chủ nghĩa tất định Laplace( Laplace''s determinism). Mọi tính toán của lý thuyết này đều dựa trên các định luật cơ học của Newton - một khoa học về chuyển động và tương tác giữa các vật thể trong không gian dưới dạng những công thức toán học chính xác. Tất nhiên, những tiên đoán của Laplace phải dựa trên một giả thiết cơ bản cho rằng những định luật ràng buộc vũ trụ hôm nay sẽ mãi mãi đúng, nói cách khác, các định luật vũ trụ là bất biến - vũ trụ bị ràng buộc bởi các định luật xác định. Vì thể, chỉ nghĩa tất định Laplace, thực chất là sự phát triển tư tưởng xác định trong khoa học đạt tới đỉnh cao mà thôi. Tuy nhiên, nếu muốn nói đến đỉnh cao nhất của tư tưởng này, phải nói tới Albert Einstein.


Mì_trứng
IP IP Logged
tranngoclinh
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 15/Sep/2007
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 29
Trích dẫn tranngoclinh Replybullet Ngày gửi: 19/Mar/2008 lúc 11:36pm
 
    Chúa không chơi trò xúc xắc

    Năm 1921, trong dịp đầu tiên đến thăm nước Mỹ, khi nghe thấy tiếng đồn rằng người ta đã khám phá ra sự tồn tại của ether, Einstein lập tức phản ứng bằng câu nói bất hủ: Chúa rất khôn ngoan tinh tế, nhưng Ngài không ranh mãnh. Lý do vì nếu quả thật có ehther thì thuyết tương đối đặc biệt của ông sẽ sụp đổ. Chẳng bao lâu sau, ông đưa ra tuyên ngôn tương tụ, nhưng còn bất hủ hơn: " Chúa không chơi trò xúc xắc"( God not plays dice), để chống lại nguyên lý bất định của cơ học lượng tử.
    Vâng, nếu con xúc xắc là biểu tượng của cuộc đỏ đen, may ruit, bất định, thì Chúa của Einstein không chơi trò xúc xắc! Chúa của ông là Đấng Sáng Tạo vũ trụ, người ban hành ra những định luật xác định buộc tất thảy những gì hiện hữu trong vũ trụ phải tuân theo. Nhiều lúc ông gọi Chúa của mình là "Ông Cụ" ( The Old One) và khát vọng cháy bỏng trong tâm can của ông là hiều được ý nghĩ của "Ông Cụ" như chính ông thường nói ra trên cửa miệng, tức là khám phá ra những định luật xác định thống trị một phần hay toàn bộ vũ trụ!
    Thiên tài có một không hai của ông đã giúp ông thoả mãn một phần khát vọng đó: hàng loạt những khám phá vĩ đại đó đã đưa ông lên vị trí một trong những bộ óc thông minh nhất của nhân loại, nhân vật số 1 của thế kỷ 20. Ông là con người của huyền thoại.
    Tất cả những khám phá của ông đều thể hiện rõ tính xác đinh của của các định luật tự nhiên, kể cả Thuyết tương đối đặc biệt (1905) lẫn Thuyết tương đối tổng quát (1916). Trong một vài tài liệu, tôi thấy có người trình bày Thuyết tương đối của Einstein như là một cái gì đó bất định của Tự nhiên. Đó là một nhầm lẫn lớn, vì thuyết tương đối là một lý thuyết xác định: nó cho phép tiên đoán chính xác các hiện tượng thiên văn, vũ trụ. Sự chính xác trong các tiên đoán đạt tới mức kinh ngạc, điển hình như tiên đoán vị trí của các ngôi sao ở gần mặt trời trên bản đồ thiên văn trong các kỳ nhật thực, để từ đó xác định được chính xác độ lệch của tia sáng khi nó đi ngang qua gần mặt trời.
    Trong khoa học, nếu coi tư tưởng xác định là cổ điển, tư tuởng bất định là hiện đại, thì Einstein là con người cổ điển bậc nhất, bảo thủ bậc nhất, mặc dù ông luôn là biểu tượng vĩ đại nhất của tư tưởng cách mạng trong khoa học. Trong suốt cuộc đời, kể cả trước lúc ra đim không bao giờ ông công nhận nguyên lý bất định của thuyết cơ học lượng tử.
    Einstein là người ngoan cố và tự ái quá chăng? Không, trong đời, đã có lúc ông phạm sai lầm trong học thuật, nhưng khi nhận thấy mình sai, ông đã khảng khái công bố trên báo chí rằng ông đã sai (trường hợp tranh luận với Friedman về vũ trụ dãn nở). Nhưng với nguyên lý bất định, không bao giờ ông cho rằng mình sai. Theo ông, nguyên lý này chỉ thể hiện sự bất lực của khoa học trong việc khám phá ra những qui luật xác định trong thế giới lượng tử thôi.
    Nguyên lý bất định đại khái nói rằng bạn không thể nào tiên đoán được chính xác vị trí của một hạt cơ bản tại một thời điểm cho trước, giống như các nhà thiên văn tiên đoán chính xác vị trí của một ngôi sao tại một thời điểm cho trước. Bạn chí có thể tiên đoán điều đó theo một xác xuất nào đó mà thôi. Einstein không đồng ý điều đó. Theo ông, nếu vật lý không tiên đoán được chính xác kết quả, thì không phải bản chất bất định của Thế giới lượng tử mà chỉ vì vật lý chưa làm tròn "bổn phận" của mình mà thôi. Ông cố gắng bịa ra rất nhiều ví dụ tưởng tượng để chứng minh nguyên lý bất định sai. Nhưng không may cho ông, Niels Bohr, người bảo vệ khổng lồ của nguyên lý bất định, đã "ăn miếng trả miếng" đâu ra đấy mỗi khi Einstein tung ra các thí nghiệm tưởng tượng của mình. Trong nhiều cuộc "tranh hùng " giữa hai nhân vật thiên tài này, nói chung Einstein thua, nhưng ông chỉ coi đó là cái thua tạm thời. Ông vẫn quyết phục thù. Rất tiếc ông đã ra đi trong khi chưa khuất phục được trường phái bất định. Nhưng lịch sử cho đến nay cũng chưa dám tuyên bố dứt khoát Einstein sai, mặc dù cơ học lượng tử liên tục đạt được những chiến công vang dội, thu phục được hầu hết trái tim và khối óc các nhà vật lý. Thật vậy, tư tưởng Einstein không chết, bằng chứng là vẫn có những trường phái hiện nay ủng hộ Einstein, tìm cách chứng minh nguyên lý bất định sai. Chẳng hạn, nhiêu nhà vật lý cho rằng cái gọi là bất định đó thực ra chỉ là hiện tượng rối lượng tử( quantum entanglement) mà thôi. Và hậu thế ngày nay tìm cách dàn hoà: kết hợp Thuyết tương đối tổng quát của Einstein(một lý thuyết mô tả những qui luật xác định của vũ trụ) với Cơ học lượng tử của Heisenberg (một lý thuyết mô tả tính bất định của thế giới lượng tử) thành một lý thuyết chung. Họ gọi lý thuyết kết hợp này là Lý thuyết về mọi thứ (Theory of Everything).
    Nói theo ngôn ngữ triết học, thì sự hoà giải của hậu thế là đi tìm một sự kết hợp giữa hai cực đối lập. Nếu hai cực này chỉ là hai cực "trái ngược nhau" mà thôi, thì tuuyên bố của Niels Bohr có thể là gợi ý mở đường: " Trái ngược không có nghĩa là mâu thuẫn, chúng bổ sung cho nhau". Nhưng nếu hai cực này là hai cực mâu thuẫn với nhau, thì sự kết hợp là bất khả. Đông học nói: Âm Dương đối lập nhưng hài hoà trong Thái Cực. Phải chăng sự kết hợp của lý thuyết Einstein với lý thuyết Heisenberg chính là tham vọng biết được Thái Cực, tức là biết được Trời - Đất. Tham vọng này e có thái quá không?
    Trong khi tôi còn bán tín bán nghi, thì đùng một cái, một khám phá lớn gần đây được công bố rầm rộ trên báo chí, sách vở, internet đưa ra một tuyên ngôn trái ngược với tuyên ngôn của Einstein: " Chúa không chỉ chơi xúc xắc trong cơ học lượng tử, mà trong cả nền tảng của toán học!". Đó là tuyên ngôn của Gregory Chaitin, nhà toán học nổi tiếng của IBM.


Mì_trứng
IP IP Logged
tranngoclinh
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 15/Sep/2007
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 29
Trích dẫn tranngoclinh Replybullet Ngày gửi: 19/Mar/2008 lúc 11:43pm
 
    Số Ômêga và hiện thực ngẫu nhiên của Chaitin

    Trong tháng 7 vùa qua, một Hội nghị Quốc tế về khoa học computer đã diễn ra tại Dijon, Pháp. Trong hội nghị này, một nhà khoa học Úc gốc Việt là giáo sư Kiều Tiến Dũng tại Đại học Swinburn, Melbourne, đã trình bày một khám phá mới của ông liên quan đến một có số kỳ lạ, gọi là số Omêga. Mở đầu báo cáo, ông viết" Một trong những nghiên cứu gây ngạc nhiên nhất trong khoa học tính toán gần đây là sự khám phá ra số, thông qua một nhánh của Lý thuyết thông tin thuật toán."


    Thật vậy, sự khám phá đã gây nên một cú sốc lớn trong giới khoa học, bởi lẽ cho thấy toán học không phải là một hệ thống xác định như nguời ta vẫn tưởng, mà hoá ra cũng chứa đựng tính ngẫu nhiên giống cơ học lượng tử. Vậy là gì?

    Đó là một con số do Gregory Chaitin tìm ra vài năm gần đây dựa trên việc phát triển định lý Godel và Sự Cố Treo Máy của Alan Turing. Godel khẳng định mọi hệ logic khép kín đều không đầy đủ( bất toàn), và trong toán học vẫn tồn tại những định lý đúng nhưng không thể chứng minh. Một biểu hiện cụ thể của Định Lý Bất Toàn là Sự Cố Treo Máy: không thể đoán trước một chương trình computer liệu có thể bị dừng lại hay chạy vòng quanh mãi hay không. Từ bài toán của Turing, Chaitin đặt vấn đề:


    Hãy tính xác xuất để một chương trình computer được chọn ngẫu nhiên trong số tất cả các chương trình có thể sẽ bị dứng là bao nhiêu. Ông gọi xác xuất đó là Ômega. Rõ ràng Ômêga tồn tại, vì trong thực tế, một chương trình có thể bị dừng, có thể không. Theo định nghĩa xác xuất, Ômega , là một số thực lớn hơn 0, nhỏ hơn 1. Tuy nhiên, chúng ta không thể bao giờ biết nó cụ thể bằng bao nhiêu, vì theo Sự Cố Treo Máy của Turing, không thể đoán trước một chương trình có thể bị dừng hay không. Tóm lại, nó là một số có thật, hiện hữu, nhưng không thể tính được, hoặc không thể biết được. Đây là chuyện chưa từng có trong toán học. KHông tồn tại bất cứ thuật toán nào cho phép tính được các chữ số của Ômega. Nếu viết trong hệ nhị phân, sẽ là một dãy gồm toàn các số 0 và 1 kéo dài vô hạn. Nếu coi 0 tương ứng với đồng xu sấp, 1 tương ứng với đồng xu ngửa, lập tức bạn sẽ thấy không có thuật toán nào cho phép tiên đoán được kết quả của chuỗi "sấp/ngửa" vô hạn của Ômega.

    Từ đó, Chaitin đi đến 2 kết luận hết sức quan trọng:
    Một, trong toán học tồn tại những con số ngẫu nhiên không thể tính được(uncomputable), hoặc không thể biết được (unknowable). Kết luận này tương đương với kết luận của Godel: Trong toán học tồn tịa những định lý đúng, nhưng không thể chứng minh.


    Hai, vì những con số mang bản chất ngẫu nhiên không tính được là số thực, mà số thực là nền tảng của số học, tức là nền tảng của toán học, do đó tính ngẫu nhiên( randomness)nằm trong nền tảng của toàn bộ khoa học!


    Vì thế, không có gì để ngạc nhiên khi Chaitin đã gây nên một cú sốc trong thế giới khoa học lớn đến chừng nào. Tạp chí New Scientist cảnh báo: " Ông ấy(Chaitin) đã làm tiêu tan toán học bằng một con số duy nhất. Và đó chỉ mới là sự khởi đầu thôi.. Đây là một tin không tốt lanh đối với nhưng nhà vật lý đang mong muốn tìm ra sự mô tả đầy đủ và chính xác về vũ trụ. Toán là ngôn ngữ của vật lý, dó đó khám phá của Chaitin ngụ ý rằng không thể nào có một Lý Thuyết Về Mọi Thứ được."


    Nếu Chaitin đúng thì có nghĩa là không thể tồn tại một lý thuyết xác định của toàn vũ trụ, bởi vì vũ trụ mang tính ngẫu nhiên nhiều hơn là xác định. Thật vậy, theo Chaitin, những định lý, định luật mà khoa học đã khám phá được thực ra quá lắm cũng chỉ giống như những hòn đảo hoặc quần đảo ngoài biển khơi, trong khi cái ngẫu nhiên và bất định chính là biển cả mênh mông! Ở đây, bất ngờ, ta gặp lại tư tưởng của Laplace : "Những điều ta biết thật ít ỏi, những điều ta không biết thì mênh mông", mặc dù Laplace là tác giả của thuyết Tất Định Vũ Trụ.


    Trên một góc độ khác, kết luận của Chaitin hoàn toàn phù hợp với kết luận của Lý Thuyết Hỗn Độn( Theory of Chaos). Lý thuyết này nói rằng mức độ hỗn độn của vật chất trong vũ trụ càng tăng lên, trật tự ngày càng giảm đi (định luật Entropi). Vì thế, chẳng cần đến nguyên lý bất định của cơ học lượng tử cũng có thể thấy rằng nhiều hiện tượng vũ trụ sẽ không thể tiên đoán một cách xác định được.

    Có thể cái xác định chỉ là những chân lý cục bộ mà thôi, trong khi cái bất định là chân lý toàn phần. Vì thể, ta chỉ có thể nhận biết được cái cục bộ, chứ không thể biết được chính xác cái toàn phần. Tham vọng biết chính xác cái toàn phần là bất khả. Nhưng đó là điều may mắn, vì nhờ thế cuộc sống mới đáng sống, bởi lẽ niềm hạnh phúc khám phá sẽ không bao giờ chết !


Mì_trứng
IP IP Logged
tranngoclinh
Newbie
Newbie
Ảnh đại diện

Gia nhập: 15/Sep/2007
Đến từ: Vietnam
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 29
Trích dẫn tranngoclinh Replybullet Ngày gửi: 19/Mar/2008 lúc 11:45pm
 
 
    Một ngày nào đó, một thiên thạch khổng lồ tiến thẳng về Trái Đất thân yêu, và nếu như chúng ta không thể xác định chính xác quỹ đạo của nó, xem như ngày tận thế là không thể tránh khỏi.

    Người bạn gái dự định sẽ tặng một món quà thật ý nghĩa cho người yêu của mình nhân ngày sinh nhật của anh, đó là bất ngờ đến thăm anh vì hai người đang ở xa nhau. Trong lòng người bạn gái cảm thấy thật hạnh phúc khi nghĩ đến niềm vui bất ngờ của người yêu. Nhưng anh chàng lại biết hết tất cả những điều đó.
    Một nhà Toán học tìm ra được một định lý mới, trong lòng vô cùng phấn khởi. Và lại càng phấn khởi hơn khi biết được rằng nếu chứng minh được tính đúng đắn của nó, ông sẽ có thể áp dụng nó để chứng minh một định lý lớn hơn, một định lý có thể nói sẽ đưa tất cả các ngành khoa học tiến thêm một bước dài. Nhưng một thời gian dài nghiên cứu, ông vẫn chưa thể chứng minh được. Giá như có một cách nào đó để tìm ra cách chứng minh mà không cần tốn chút thời gian hay công sức, thì nền văn minh của con người sẽ phát triển đến mức không ai tưởng tượng nổi. Không nản lòng, ông vẫn miệt mài nghiên cứu, và vô tình ông lại tìm ra được những định lý mới, thậm chí là những Lý Thuyết mới. Niềm đam mê Toán học của ông trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết...
 
Mì_trứng
IP IP Logged
VuLam Dang
Newbie
Newbie


Gia nhập: 29/Nov/2009
Trạng thái Online: Offline
Bài viết: 1
Trích dẫn VuLam Dang Replybullet Ngày gửi: 29/Nov/2009 lúc 12:50am

Ở trong bài viết của bạn, bạn có nhắc đến một chi tiết, đó là toán học được coi là một môn khoa học toàn năng, luôn đúng, và gần đây mới bị coi là có khiếm khuyết. Nhưng thực ra từ rất lâu rồi, toán học không còn là một môn khoa học toàn năng nữa. Vào thời điểm năm 1931, cùng năm thiên tài Alan Turing bắt đầu những nghiên cứu của mình ở Cambridge, một nhà logic học tên là Godel đã đề xướng ra "tính không thể quyết định của toán học". Và trong những nỗ lực để chứng minh điều ngược lại, Turing đã sáng tạo ra máy Turing toàn năng, mô hình toán học của mọi máy tính hiện đại. Tuy nhiên thông qua máy này, cuối cùng Alan Turing đã phát hiện ra rằng, không phải mọi vấn đề trong toán học đều có thể xác định được. Năm 1937, ông đã viết bài báo "Về những con số tính toán được", một trong những bài báo có ảnh hưởng nhất trong lịch sử toán học hiện đại, chính thức xác nhận rằng toán học không phải bao giờ cũng là xác định và tuyệt đối đúng. Không cần chờ đến lúc nhà toán học người Úc gốc Việt Kiều Tiến Dũng tìm ra số Omega, từ trước Thế chiến Thứ Hai, hai nhà toán học, logic học Alan Turing và Godel đã tìm ra được cách chứng minh toán học không phải là một môn toán học toàn năng nữa.

IP IP Logged
Trả lời bài viết Gửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Chuyển nhanh đến
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn

Bulletin Board Software by Web Wiz Forums version 8.03
Copyright ©2001-2006 Web Wiz Guide

Trang này được tạo ra trong 0.078 giây.